Trang chủ | Giới thiệu | Thông báo | Tuyển dụng | Liên hệ  
 
Người gửi: Chi Yen ( )
Vợ có được chia tài sản khi chồng đứng tên đất bố mẹ cho?
Trả lời

Bạn không nói rõ cha mẹ chồng cho mảnh đất là cho riêng chồng bạn hay cho cả vợ chồng nên chúng tôi tư vấn cho bạn như sau:

- Nếu cha mẹ chồng cho riêng chồng bạn quyền sử dụng mảnh đất, thì đây là tài sản riêng của chồng bạn, trừ khi vợ chồng bạn đã có thỏa thuận đưa vào tài sản chung. Do đó khi ly hôn, bạn chỉ có quyền đòi lại những gì bạn đã đóng góp trong việc xây dựng tôn tạo, tu bổ trên mảnh đất đó, hoặc 2 vợ chồng bạn có thỏa thuận khác.

- Nếu cha mẹ chồng cho vợ chồng mảnh đất đó, thì đây là tài sản chung của vợ chồng. Vì thế, khi ly hôn mà vợ chồng không có thỏa thuận gì khác thì tòa án sẽ chia theo pháp luật như sau:

“Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.”

 
Người gửi: a chinh ( )
Phải làm sao khi người khác không chịu cắt hộ khẩu?
Trả lời

Công dân có quyền tự do lựa chọn nơi cư trú của mình, và chỉ bị hạn chế bởi quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định. 

Để xóa đăng ký thường trú của cô bạn ở địa chỉ gia đình bạn thì cô bạn phải đăng ký thường trú tại địa chỉ mới. 

Nếu cô bạn vì lý do nào đó không thể về để làm thủ tục cắt khẩu, thì chỉ cần chủ hộ gia đình bạn mang theo sổ hộ khẩu, liên hệ với công an xã/thị trấn hoặc công an thành phố/thị xã thuộc tỉnh hoặc công an quận/huyện TP trung ương để xin giấy chuyển khẩu.

Gia đình bạn gửi giấy chuyển khẩu cho cô bạn để cô bạn làm thủ tục đăng ký thường trú tại địa chỉ mới. 
Khi cô bạn đăng ký thường trú tại địa chỉ mới thành công thì cơ quan công an nơi cấp đăng ký thường trú mới sẽ thông báo với cơ quan công an nơi đăng ký thường trú cũ của cô bạn để xóa đăng ký thường trú

 
Người gửi: a Minh ( )
Tôi đóng BHTN được 4 năm 11 tháng thì hưởng TCTN được mấy tháng?
Trả lời
Điều 50 Luật Việc làm quy định: 1. Mức hưởng TCTN hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 5 lần mức lương cơ sở đối với NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của BLLĐ đối với NLĐ đóng BHTN theo chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định tại thời điểm chấm dứt HĐLĐ hoặc HĐLV.
2. Thời gian hưởng TCTN được tính theo số tháng đóng BHTN, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 3 tháng TCTN, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 1 tháng TCTN nhưng tối đa không quá 12 tháng.
3. Thời điểm hưởng TCTN được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng TCTN theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này.
 
Như vậy, bạn sẽ nhận được 4 tháng TCTN. 11 tháng đóng BHTN còn lại sẽ được bảo lưu và cộng dồn khi đủ điều kiện hưởng TCTN lần sau.
 
Người gửi: Anh Đoàn Văn Tùng ( )
Tôi có nhận chuyển nhượng một mảnh đất 225m2 , hai bên chỉ làm giấy viết tay với nhau. Khi tôi đem giấy này đến UBND xã để chứng thực thì công chức tư pháp từ chối tiếp nhận, vì đất chưa có Giấy chứng nhận QSDĐ. Vậy, việc từ chối chứng thực chữ ký của tôi và người chuyển nhượng trong giấy chuyển nhượng đất của xã là đúng hay sai?
Trả lời

Luật gia Bùi Đức Độ trả lời: Một trong những điều kiện chuyển nhượng đó là đất phải có Giấy chứng nhận QSDĐ. Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ phải theo mẫu và phải được công chứng/chứng thực.

Giấy tờ chuyển nhượng đất viết tay của anh thuộc loại hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ không đủ điều kiện để chứng thực nội dung của giao dịch này.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 25 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ Về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch, Ủy ban nhân dân xã không được chứng thực chữ ký trong giấy chuyển nhượng này, vì có nội dung là hợp đồng giao dịch.

 
Người gửi: Nguyen Thanh Minh ( )
Có được quyền yêu cầu định giá lại tài sản tranh chấp?
Trả lời

Trả lời: Tại khoản 5 Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định cho phép các đương sự có quyền thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản để thực hiện việc thẩm định giá tài sản và cung cấp kết quả thẩm định giá cho tòa án. Việc thẩm định giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về thẩm định giá tài sản.

Trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết quả định giá lần đầu không chính xác hoặc không phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm giải quyết vụ án dân sự thì đương sự có quyền yêu cầu tòa án ra quyết định định giá lại tài sản tranh chấp.

Như vậy trong trường hợp của bạn, nếu có đủ căn cứ cho rằng kết quả định giá lần đầu không chính xác hoặc không phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm giải quyết vụ án thì bạn có quyền yêu cầu tòa án ra quyết định định giá lại.

 
Người gửi: Nguyen Thi Minh Anh ( )
Chị tôi bị công ty nhắc nhở nhiều lần về việc chị ấy đi làm trễ. Vì chị đang có thai tháng thứ hai nên bị thai hành nghén không ăn uống được nên sức khỏe kém. Trường hợp này chị tôi có bị xử lý kỷ luật lao động không (vì người nói có, người nói không)?
Trả lời

TL: Theo khoản 4 Điều 123 Bộ luật Lao động năm 2012, quy định không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian sau đây:

1. Nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động;
2. Đang bị tạm giữ, tạm giam;
3. Đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm được quy định tại khoản 1 Điều 126 của Bộ luật này;
4. Lao động nữ có thai, nghỉ thai sản; người lao động nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.
5. không xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

 
Người gửi: Nguyen Thanh T ( )
Không còn giấy tờ do chị cháy, có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?
Trả lời
Trường hợp của ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên cần làm những thủ tục theo quy định của pháp luật như sau:
Theo khoản 2 Điều 101 Luật đất đai năm 2013 có quy định về vấn đề Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất như sau: "Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."
Theo đó, gia đình ông T sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vì gia đình ông đã sử dụng đất ổn định từ trước ngày 01/7/2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai. phù hợp với quy hoạch.
 
Người gửi: Dinh Thi Viet Ha ( )
Không có giấy đăng ký kết hôn, có ly hôn được không?
Trả lời
Đối với trường hợp của Chi H theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014: "Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này."
Như vậy, Chi H phải gửi đơn lên tòa án để yêu cầu ly hôn, tòa sẽ nhận đơn và tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân theo quy định tại khoản 2 điều 53 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Vấn đề con cái và tài sản sẽ được giải quyết theo quy định tại điều 15, 16 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 như sau: Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.
 
Người gửi: Nguyen Thi Linh Chi ( )
Vì sao không đăng ký tạm trú lại bị công an phạt?
Trả lời

Điều 30 Luật Cư trú quy định về đăng ký tạm trú như sau:

1. Đăng ký tạm trú là việc công dân đăng ký nơi tạm trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký tạm trú, cấp sổ tạm trú cho họ.

2. Người đang sinh sống, làm việc, lao động, học tập tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn nhưng không thuộc trường hợp được đăng ký thường trú tại địa phương đó thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày đến phải đăng ký tạm trú tại công an xã, phường, thị trấn.

3. Người đến đăng ký tạm trú phải xuất trình giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có xác nhận của công an xã, phường, thị trấn nơi người đó đã đăng ký thường trú; giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở đó; nộp phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu, bản khai nhân khẩu; trường hợp chỗ ở hợp pháp là nhà do thuê, mượn hoặc ở nhờ của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản.

4. Trưởng công an xã, phường, thị trấn trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ quy định tại khoản 3 Điều này phải cấp sổ tạm trú theo mẫu quy định của Bộ Công an.

Sổ tạm trú được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký tạm trú, có giá trị xác định nơi tạm trú của công dân và có thời hạn tối đa là 24 tháng.

Trong thời hạn 30 ngày trước ngày hết thời hạn tạm trú, công dân đến cơ quan Công an nơi cấp sổ tạm trú để làm thủ tục gia hạn.

Việc điều chỉnh thay đổi về sổ tạm trú được thực hiện theo quy định tại Điều 29 của Luật này. Sổ tạm trú bị hư hỏng thì được đổi, bị mất thì được cấp lại. Trường hợp đến tạm trú tại xã, phường, thị trấn khác thì phải đăng ký lại.

5. Trường hợp người đã đăng ký tạm trú nhưng không sinh sống, làm việc, lao động, học tập từ sáu tháng trở lên tại địa phương đã đăng ký tạm trú thì cơ quan đã cấp sổ tạm trú phải xóa tên người đó trong sổ đăng ký tạm trú.

Khoản 4 Điều 17 Thông tư số 35/2014/TT-BCA ngày 9/9/2014 của Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú và Nghị định số 31/2014/NĐ-CP ngày 18/4/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú cũng quy định: Công dân thay đổi nơi tạm trú ngoài phạm vi xã, phường, thị trấn thì được cấp sổ tạm trú mới.

Như vậy, theo các quy định trên, nếu công dân thay đổi chỗ ở (nơi tạm trú) nhưng trong cùng phạm vi xã, phường, thị trấn thì không thuộc trường hợp đăng ký tạm trú lại và cấp sổ tạm trú mới.

Tuy vậy, theo khoản 1 Điều 18 Thông tư số 35/2014/TT-BCA, khoản 4 Điều 29 Luật Cư trú, trường hợp chuyển đến chỗ ở hợp pháp mới trong phạm vi xã, thị trấn của huyện thuộc tỉnh; chuyển đi trong cùng một huyện, quận, thị xã của thành phố trực thuộc Trung ương; chuyển đi trong cùng một thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì chủ hộ hoặc người trong hộ hoặc người được ủy quyền phải làm thủ tục điều chỉnh sổ tạm trú.

Người đến làm thủ tục điều chỉnh phải nộp phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; xuất trình sổ hộ khẩu; giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp mới.

Theo điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013, cá nhân, chủ hộ gia đình không thực hiện đúng quy định về đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú hoặc điều chỉnh những thay đổi trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú thì bị phạt tiền từ từ 100.000 đến 300.000 đồng.

Theo khoản 4 Điều 23 Luật Xử lý vi phạm hành chính, mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt.

Như vậy, trường hợp không điều chỉnh sổ tạm trú do thay đổi chỗ ở như nêu trên và bị phạt tiền với mức trung bình 200.000 đồng là có cơ sở./.

 
 
Người gửi: Tran Thi Thanh ( )
Chuyển hộ khẩu có phải làm lại chứng minh nhân dân?
Trả lời
Chứng minh thư nhân dân là một loại giấy tờ tùy thân của công dân do cơ quan Công an có thẩm quyền chứng nhận về những đặc điểm riêng và nội dung cơ bản của mỗi công dân trong độ tuổi do pháp luật quy định, nhằm bảo đảm thuận tiện việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của công dân trong đi lại và thực hiện các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam.
Trên chứng minh nhân dân sẽ thể hiện những thông tin cơ bản của bạn như: họ tên, ngày/tháng/năm sinh, nơi đăng kí hộ khẩu thường trú, nguyên quán và các đặc điểm nhận dạng của bạn. Chứng minh nhân dân là một giấy tờ quan trọng, chứa thông tin của bạn để có thể thực hiện các quyền, nghĩa vụ của bạn cho nên thông tin trong chứng minh thư nhân dân phải đáp ứng điều kiện chính xác. Theo quy định của Nghị định số 05/1999/NĐ-CP về chứng minh nhân dân quy định những trường hợp sau phải đổi lại chứng minh nhân dân: Những trường hợp sau đây phải làm thủ tục đổi Chứng minh nhân dân: Chứng minh nhân dân hết thời hạn sử dụng; Chứng minh nhân dân hư hỏng không sử dụng được; Thay đổi họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh; Thay đổi nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Thay đổi đặc điểm nhận dạng.
Theo Nghị định đã quy định thì trường hợp thay đổi nơi đăng kí hộ khẩu thường trú ngoài phạm vi tỉnh, thành phố thì sẽ phải làm lại chứng minh thư nhân dân để có thể thuận tiện cho việc thực hiện các thủ tục pháp lý về sau. Do vậy, khi anh H chuyển hộ khẩu (nơi đăng kí hộ khẩu thường trú) từ tỉnh Nghệ An sang tỉnh Quảng Bình thì anh H cần thực hiện thủ tục đổi lại chứng minh thư nhân dân.
 
 
*
*
*
*
 
 
Đối tác
Đăng ký dịch vụ online
Hỗ trợ online
Biểu phí
Hỏi đáp
Thông kê truy cập

Khách online: 2
Số truy cập: 421344
G

084 823 6688